Trước 01/01/2016 Nghỉ Không Lương Đóng BHXH Như Thế Nào

Trong thực tế hiện nay, có nhiều đơn vị sử dụng lao động đang hiểu chưa đầy đủ về các quy định của pháp luật, họ thường nhầm lẫn khi
áp dụng luật trong công việc liên quan tới lĩnh vực lao động . Ngoài các quy định của Luật BHXH ra, các anh, chị làm công tác BHXH tại đơn vị cần phải chú ý nhiều hơn tới các quy định tại Luật lao động, bởi Luật BHXH chỉ điều chỉnh về lĩnh vực đóng, BHXH, BHYT, BHTN, nếu thuộc đối tượng đóng BHXH thì đóng như thế nào và nếu không thuộc đối tượng đóng BHXH thì không điều chỉnh. Khác với Luât Bảo hiểm xã hôi, Luật lao động bao chùm,
điều chỉnh toàn diện mối quan hệ lao động từ tuyển dụng, ký hợp đồng, trả lương, đóng BHXH, BHYT, BHTN. Trường hợp nào thì được tạm dừng đóng, trường hơp nào được quyền thanh lý HĐLĐ... nhưng trong khuôn khổ bài viết này Baohiemxahoi chỉ đề cập tới khía cạnh BHXH, BHYT, BHTN . khía cạnh còn lại Baorhiemxahoi sẽ tách ra viết ở bài sau. Để thực hiện đúng quy định của pháp luật nói chung; đơn vị sử dụng lao động phải căn cứ theo Luật lao động là chính, riêng lĩnh vực trích nộp BHXH mới thực hiện theo luật BHXH.
Người lao động  tham gia BHXH, trong quá trình làm việc, khi nghỉ việc  quy định tại Luật lao động, Luật viên chức, đóng BHXH nói chung như thế nào . Để xác đinh trường hợp, điều kiện nào khi nghỉ việc không hưởng lương và có hưởng lương nhưng phải đóng BHXH hoặc không phải đóng BHXH. Cụ thể chi tiết chúng ta cần  phân biệt:
I/ Nghỉ việc có hưởng lương:  
  • Căn cứ theo điều 13, Luật Viên chức về việc nghỉ ngơi và điều 116,  ( Trích: 4. Được nghỉ không hưởng lương trong trường hợp có lý do chính đáng và được sự đồng ý của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập.)
  • Bộ Luật Lao động 2012: Nghỉ việc riêng nhưng vẫn được hưởng lương. Trong đó, các ngày nghỉ việc riêng có hưởng lương như ngày nghỉ kết hôn, nghỉ lễ - tết, nghỉ hiếu  - hỉ, nghỉ phép năm.  Nếu nghỉ việc thuộc các trường hợp nêu trên,theo quy định của pháp luật thì nguyên tắc đóng và mức đóng BHXH của NLĐ và người sử dụng lao động được căn cứ vào tiền lương của NLĐ. Như vậy,  NLĐ nghỉ việc nhưng vẫn hưởng lương thì vẫn có căn cứ để đóng BHXH.
Tóm tắt: Nghỉ phép năm; nghỉ thai sản dưới 14 ngày; Hiếu - hỉ; bản than ốm; nghỉ việc dưới 14 ngày; Người lao động phải nghỉ việc không có lương do đơn vị không bố trí được công việc, người lao động làm việc ở đơn vị chưa được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt được dừng đóng vào quỹ hưu trí, tử tuất. Tất cả các lao động ở diện này vẫn đóng BHXH, BHYT, BHTN bình thường    

II/ Về vấn đề trích nộp BHXH;
  • với lao động nghỉ việc không hưởng lương (đối với cả Công chức, Viên chức và lao động) hoặc được tuyển dụng không đủ số ngày trong tháng :
Tại khoản 2, Điều 54, Quyết định số 1111/QĐ-BHXH, ngày 25/10/2011 của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam quy định: “NLĐ tăng mới hoặc ngừng việc, nghỉ việc trong tháng, có ít nhất 01 ngày làm việc và hưởng tiền lương trong tháng, thì tính đóng BHXH, BHYT, BH thất nghiệp đối với đơn vị và NLĐ như sau: Trường hợp số ngày không làm việc và không hưởng tiền lương, từ 14 ngày trở lên trong tháng thì không tính đóng BHXH, BHYT, BH thất nghiệp của tháng đó:
- NLĐ tăng mới thì tính đóng BHXH, BHYT, BH thất nghiệp từ ngày đầu của tháng tiếp theo tháng chuyển đến làm việc hoặc tháng có hiệu lực của hợp đồng lao động, quyết định tuyển dụng;
- NLĐ ngừng việc, nghỉ việc thì tính đóng BHXH, BHYT, BH thất nghiệp đến ngày cuối cùng của tháng trước liền kề tháng ngừng việc, nghỉ việc”.
Theo điều 93 Luật bảo hiểm xã hội (BHXH) quy định về việc tạm dừng đóng quỹ hưu trí và tử tuất: trong trường hợp người sử dụng lao động gặp khó khăn phải tạm dừng sản xuất, kinh doanh hoặc gặp khó khăn do thiên tai, mất mùa dẫn đến việc người lao động và người sử dụng lao động không có khả năng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất thì được tạm dừng đóng trong thời gian không quá 12 tháng.
- Người lao động đề nghị nghỉ không hưởng lương và được đơn vị sử dụng lao động chấp nhận bằng văn bản thì thời gian nghỉ không hưởng lương tối đa không quá 02 tháng.

III/ Điều 54. Quyết định 1111/QĐ-BHXH, quy định về đóng BHXH
1. Cơ quan BHXH căn cứ hồ sơ của đơn vị và người tham gia để xác định đối tượng, tiền lương, mức đóng, số tiền phải đóng BHXH, BHYT, BHTN đối với người tham gia và đơn vị theo phương thức đóng của đơn vị, người tham gia.
2. Người lao động tăng mới hoặc ngừng việc, nghỉ việc trong tháng, có ít nhất 01 ngày làm việc và hưởng tiền lương trong tháng, thì tính đóng BHXH, BHYT, BHTN đối với đơn vị và người lao động như sau:
 2.1. Trường hợp số ngày không làm việc và không hưởng tiền lương, từ 14 ngày trở lên trong tháng thì không tính đóng BHXH, BHYT, BHTN của tháng đó:
 - Người lao động tăng mới thì tính đóng BHXH, BHYT, BHTN từ ngày đầu của tháng tiếp theo tháng chuyển đến làm việc hoặc tháng có hiệu lực của hợp đồng lao động, quyết định tuyển dụng;
- Người lao động ngừng việc, nghỉ việc thì tính đóng BHXH, BHYT, BHTN đến ngày cuối cùng của tháng trước liền kề tháng ngừng việc, nghỉ việc. Trong cả hai trường hợp trên, nếu đơn vị và người lao động đề nghị đóng BHXH, BHYT, BHTN cho cả tháng mà người lao động có ít nhất 01 ngày làm việc và hưởng tiền lương, tiền công thì thực hiện theo đề nghị của đơn vị.
Tóm tắt: Ngừng việc hoặc nghỉ việc mà trong tháng có từ đủ 14 ngày làm việc và hưởng lương trở lên, người lao động được ký hợp đồng mới,  tuyển dụng mới, điều động luân chuyển tới làm việc ở đơn vị có đủ 14 ngày làm việc trở lên;  Hợp đồng lao động bao gồm cả thời gian thử việc trong đó và có thời hạn hợp đồng từ 3 tháng trở lên; tăng mới, ngừng việc nếu trong tháng có 1 ngay làm việc và lao động đề nghi được đóng cho cả tháng. Tất cả các lao động ở diện này vẫn đóng BHXH, BHYT, BHTN bình thường    
Theo điều 44 nghị định 152/2006/NĐ-CP ngày 22-12-2006 của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc quy định việc tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất theo điều 93 Luật BHXH như sau:
3. Các trường hợp đơn vị sử dụng lao động được tạm dừng đóng BHXH
a) Gặp khó khăn phải tạm dừng sản xuất, kinh doanh;
b) Gặp khó khăn do thiên tai, mất mùa.
3.1. Điều kiện:
a) Người sử dụng lao động thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 điều này, được tạm dừng đóng khi có một trong các điều kiện sau:
- Không bố trí được việc làm cho người lao động, trong đó số lao động thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội phải tạm thời nghỉ việc từ 50% tổng số lao động có mặt trước khi tạm dừng sản xuất, kinh doanh trở lên;
- Bị thiệt hại trên 50% tổng giá trị tài sản do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, mất mùa gây ra (không kể giá trị tài sản là đất).
3.2 Thẩm quyền quyết định việc tạm dừng đóng:
 a) Thủ tướng Chính phủ quyết định tạm dừng đóng đối với các tổ chức kinh tế do Thủ tướng Chính phủ thành lập theo đề nghị của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội;
 b) Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quyết định tạm dừng đóng đối với người sử dụng lao động do các bộ, ngành, cơ quan trung ương quản lý theo đề nghị của các Bộ, ngành, cơ quan trung ương;
 c) Cơ quan quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội cấp tỉnh quyết định tạm dừng đóng đối với người sử dụng lao động thuộc địa phương quản lý.
4. Trong thời gian tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất, người sử dụng lao động vẫn đóng vào quỹ ốm đau và thai sản, quỹ tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp. Người lao động được hưởng các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định và được giải quyết hưởng chế độ hưu trí, bệnh nghề nghiệp theo quy định .
b) Thời gian tạm dừng đóng theo tháng và không quá 12 tháng.
Theo quy định tại khoản 2 điều 8 thông tư 32/2010/TT-BLĐTBXH của Bộ LĐ-TB&XH hướng dẫn thực hiện một số điều của nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12-12-2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHXH về bảo hiểm thất nghiệp: trường hợp người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng, không hưởng tiền lương, tiền công tháng tại đơn vị mà hưởng trợ cấp BHXH thì cả người lao động và người sử dụng lao động không phải đóng bảo hiểm thất nghiệp trong tháng đó. Thời gian này không được tính để hưởng bảo hiểm thất nghiệp khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc.

Tóm tăt:  Đề nghị và được cháp thuận nghỉ việc không hưởng lương ( thời gian nghỉ không hưởng lương không quá 2 tháng; Đơn vị thuộc các trường hợp được tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất do cơ quan có thẩm quyền phê duyệt;  nghỉ ốm từ 14 ngày trở lên hoặc ốm đau đã nghỉ hết số ngày được nghỉ theo chế độ ốm đau được quy định tại Luật BHXH thì cả người lao động và đơn vị sử dụng lao động không phải đóng BHXH nói chung.   
Xem lại bài viết nghỉ không lương đóng BHXH như thế nào theo Luật BHXH 71/2006 và Quyết định 959/QĐ-BHXH  TẠI ĐÂY
Facebook Comments
Google Comments
Bảng tin Để có câu trả lời nhanh nhất hãy đăng nhập Gmail và vào mục Hỏi đáp hoặc Tab Liên hệ để gửi câu hỏi.Thăm trang web hãy để lại nhận xét ở mỗi bài, like, G+ hoặc chia sẻ để khuyến khích ban quản trị.
HỖ TRỢ NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM XÃ HỘI   ☎ Telephone:08255055683
Copyright ©2012 - All Rights Reserved by:Hỗ trợ nghiệp vụ BHXH
☒  Gmail: hotronghiepvubhxhh@gmail.com
Đơn vị chủ quản: Hỗ Trợ Nghiệp Vụ Bảo Hiểm Xã Hội